Affichage des articles dont le libellé est Tao Phung. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est Tao Phung. Afficher tous les articles

20260729

Message a son ami Bằng Vân, perdu de vue en 1945

Trong tập thơ Tao phùng , của Xuân Việt #1955.

3 ngươi bạn, mỗi người một ngã.
Bằng Vân, Xuân Diệu, Xuân Việt
-----
Traduction google lens.
A Bang – VAN

Ninh-Hoa, suis  arrivé ce matin. En repensant à Bang-Van, quelle douleur ! Des milliers de kilomètres de nuages ​​brumeux, sept mille montagnes profondes, des nuages ​​déferlant. La littérature est sur le point de briller, le talent est roi, le destin dépend encore de maigres bénédictions. Mon cœur garde fermement la promesse, et je me souviens avec tristesse des adieux. (1)

:

(1) derniere Rencontre avec Bang-Van à Ninh Hoa en août 1945.

:

Page 18 du recueil de poèmes
(Tao-phung)

20251206

Les poèmes traduits en vietnamien.



Poèmes de :

Thôi Hao .Hoàng hac lâu.
Baudelaire .Harmonie du soir.Huong nhac chiêu hôm.
Lord  Alfred Tennyson .Ring bells. Chuông rên.
Marceline Desbordes-Valmore .Inconsolee. Cách biệt
R L Stevenson. Requiem. An nghi.
Paul Schneider.Croix blanches.Thánh giá trắng 
Terre sereine.Dât thanh quang.
Ruyard Kipling.If. nêu.

Edités dans le recueil Tao Phùng 1954.


20141127

Traduction de poèmes : Baudelaire, L'Albatros



L'albatros. Hải Âu

Souvent, pour s'amuser, les hommes d'équipage
Prennent des albatros, vastes oiseaux des mers,
Qui suivent, indolents compagnons de voyage,
Le navire glissant sur les gouffres amers.
A peine les ont-ils déposés sur les planches,
Que ces rois de l'azur, maladroits et honteux,
Laissent piteusement leurs grandes ailes blanches
Comme des avirons traîner à côté d'eux.
Ce voyageur ailé, comme il est gauche et veule!
Lui, naguère si beau, qu'il est comique et laid!
L'un agace son bec avec un brûle-gueule,
L'autre mime, en boitant, l'infirme qui volait!
Le Poète est semblable au prince des nuées
Qui hante la tempête et se rit de l'archer;
Exilé sur le sol au milieu des huées,
Ses ailes de géant l'empêchent de marcher.
Charles Baudelaire (Les fleurs du mal)

Để đuà chơi, nhiều khi thủy-thủ
Bắt Hải-Âu, chim của Trùng-Dương.
Lững lờ, bát ngát cánh dương,
Theo thuyền, lướt sóng như đương hộ thuyền.
Vưà mới để lên trên sàn gỗ,
"Vua trời xanh" nghiêng đổ, nặng nề.
Cánh dài trắng bỏ lê -thê,
Như chèo buông xõng trăm bề thảm thương.
Đại dực khách! Khi thường đẹp thế!
Nay tội chưa! xấu xí, vụng về!
Điêu, người chọc mỏ ê-chề,
Kẻ đi lặc, diễu thân què, xưa bay!

Thi-Sĩ như "Trời Mây Hoàng Đế ",
Xá chi cung, quen rẽ bao trời.
Trần-gian đầy đọa ngạo cười,
Cánh bằng lớn quá, đường đời khôn đi.

16/9/53
X.V.(thơ dịch)



20060331

1946. Bao nam nữ...



Combien de jeunes...

Combien de jeunes gens et de jeunes filles se sont-ils sacrifiés pour leur pays?
Ce poème est dédié à Đặng Quốc Cương, ancien élève de l'école militaire "Lục Quân Trần Quốc Tuấn" , tombé dans une bataille contre le Viet Minh en 1946 à Yên Bái, Nord Vietnam.



Kính dâng em Cương đã chiến đấu Việt Minh và đã chết oanh liệt tại Yên Bái trong
một trân giao phong với một bọn vô Tổ Quốc, vô Gia Đình, vô Tôn Giáo.

Bao nam nữ, vì NHÂN mà đã chết.
Đây tinh hoa dân Hồng Lạc muôn đời.
Nghe sông núi, tiếng gọi kêu tha thiết
Đoàn Thanh Niên đứng dậy đáp ngay lời.

Đứng dậy ! Đã bao lâu ta chờ đợi.
Máu nổi sôi, ta nén đã bao lần.
Răng ta nghiến để mong chờ cơ hội
Cứu non sông và giải thoát muôn dân.

Đây bao ngực sẵn sàng chờ súng đạn.
Hai tay trơn , ta đánh trả thần công.
Ta cười mỉm, cho đời xem bạo dạn,
Xem mưu cơ và biết chí anh hùng.

Đây oanh liệt, hiến cho Trời, Đất, Nước
Ôi! Trắng trong: hoa huệ trước bàn thờ
Những cây luá, ngả nằm không đếm được ,
Mình Thanh Niên, đây lễ vật đơn sơ.

Ta thành kính dâng quê cha đất tổ
Cả đời ta, như vừng nguyệt đêm rằm.
Ta chỉ tiếc khi xương tàn thịt đổ,
Có một đời , không hiến được hai lần!

Lớp nọ ngã, lớp kia bèn tiếp đến,
Như sóng dồi, trên mặt bể mênh mông.
Ôi! Nước Việt, đau thương và yêu mến!
Các con Ngươi, xót mẹ biết bao chừng!

Ta trả lại cho đồng quê sức mạnh,
Khí anh hùng đọng lại những ngày xanh.
Chỉ lên vút như chim bằng cất cánh,
Bao tinh hoa, sông núi kết nên thành!

Đất mòn mỏi, vì máu hồng tưới dội,
Sẽ hồi xuân và dân tộc tái sinh.
Trong sự chết, ta khơi nguồn sống mới:
Giống Lạc Hồng muôn thuở vẫn tinh anh.

Xuân Việt
Trích tập thơ Tao Phùng, xuất bản năm 1955 tại Sài Gòn.